vendredi 12 octobre 2012

Núi Gơ-ri-dim (Gerizim) và núi Ê-van (Ebal)



Trong cả bốn Tin Mừng, không xuất hiện địa danh “Gơ-ri-dim” (Gerizim) và “Ê-van” (Ebal). Chỉ 1 lần trong Ga 4,20 nói gián tiếp đến núi Gơ-ri-dim trong cuộc trao đổi giữa Đức Giê-su và người phụ nữ Sa-ma-ri bên bờ giếng Gia-cóp, giếng này bên cạnh núi Gơ-ri-dim. Người phụ nữ Sa-ma-ri nói với Đức Giê-su: “Cha ông chúng tôi đã thờ phượng ở núi này; còn các ông, các ông nói rằng: ở Giê-ru-sa-lem mới là nơi phải thờ phượng” (Ga 4,20). Khi người phụ nữ nói về việc thờ phượng “ở núi này” (en tô orei) tức là núi Gơ-ri-dim.

Vị trí núi Gơ-ri-dim (Gerizim) và núi Ê-van (Ebal)

Bản đồ từ Bible History Online

Vào thời Giô-suê núi Gơ-ri-dim và núi Ê-van là nơi Giô-suê đọc những lời chúc phúc và nguyền rủa trong sách Luật cho dân nghe. Sách Giô-suê kể ở Gs 8,32-34: “32 Ông Giô-suê cho khắc bản sao Luật Mô-sê trên những tảng đá; ông Mô-sê đã viết Luật đó trước mặt con cái Ít-ra-en. 33 Toàn thể Ít-ra-en, các bậc kỳ mục, kinh sư và thẩm phán đều đứng hai bên Hòm Bia, đối diện với các tư tế Lê-vi khiêng Hòm Bia Giao Ước của ĐỨC CHÚA, người ngoại kiều cũng như người bản xứ, một nửa đứng trước núi Gơ-ri-dim, một nửa đứng trước núi Ê-van, để theo lệnh ông Mô-sê, tôi trung của ĐỨC CHÚA, dân Ít-ra-en được chúc phúc trước. 34 Sau đó, ông Giô-suê đọc mọi lời của Lề Luật, –những lời chúc phúc và những lời nguyền rủa–, theo như mọi điều đã ghi trong Sách Luật” (NPD/CGKPV). Đây là núi Gơ-ri-dim và núi Ê-van ngày nay.

Hình từ BiblePlaces.com

Núi Gơ-ri-dim bên phải và núi Ê-van bên trái

Núi Gơ-ri-dim thuộc vùng đồi núi Sa-ma-ri, núi này cao khoảng 868 mét so với mực nước biển Địa Trung Hải và cao 244 mét tính từ chân núi. Núi Ê-van bên cạnh, cao 938 mét so với mực nước biển Địa Trung Hải và cao 366 mét tính từ chân núi (xem chi tiết tại http://bibleatlas.org và http://classic.net.bible.org). Giữa hai núi Gơ-ri-dim và Ê-van là vùng đất thành Si-khem (ngày nay là thành Nablus). Xy-kha (Askar) ở chân núi Ê-van và phía nam là giếng Gia-cóp theo hướng núi Gơ-ri-dim.

Theo sử gia Josephus, Sanballat là thủ lãnh người Sa-ma-ri đã xây một đền thờ trên núi Gơ-ri-dim, và thiết lập làng tư tế đối lập với đền thờ và tư tế ở Giê-ru-sa-lem (cf. Josephus Ant. 11:8,2-4). Sự căng thẳng về tôn giáo giữa người Do Thái và người Sa-ma-ri đã dẫn đến biến cố John Hyrcan phá huỷ đền thờ trên núi Gơ-ri-dim vào cuối thế kỷ II BCE. Trước đó đền thờ Gơ-ri-dim đã tồn tại 200 năm. Vào thời kỳ Kitô giáo được đế quốc Rô Ma nhìn nhận và phát triển trên toàn đế quốc, một nhà thờ Ki-tô giáo hình bát giác (octagonal church) được xây dựng trên núi Gơ-ri-dim vào năm 475 CE. Sau đó nhà thờ này bị người Hồi Giáo phá huỷ vào thế kỷ VIII (xem WALKER, In the Steps of Jesus, 2006, p. 89). Đây là di tích nhà thờ Ki-tô giáo trên núi Gơ-ri-dim ngày nay:

Hình của Ron Peled
 
Hình từ Illustrated Dictionary

Những thông tin về núi Gơ-ri-dim và núi Ê-van trong dòng lịch sử, từ Cựu Ước đến Tân Ước và cho đến ngày nay, giúp độc giả hiểu rõ hơn thông điệp của câu chuyện Đức Giê-su gặp gỡ và trao đổi với người Sa-ma-ri ở Ga 4,1-43.


Ngày 12 tháng 10 năm 2012
Email: josleminhthong@gmail.com

Xem bài viết:

pêgê tou Iakôb (Giếng Gia-cóp)



Trong bốn Tin Mừng, “Giếng Gia-cóp” (dịch sát: Giếng của Gia-cóp, tiếng Hy Lạp: pêgê tou Iakôb, Anh: Jacob’s well, Pháp: le puits de Jacob) chỉ xuất hiện 1 lần ở Ga 4,6. Người thuật chuyện kể hành trình của Đức Giê-su từ Giu-đê đi Ga-li-lê, băng qua Samari ở Ga 4,5-6: “5 Vậy Người đến một thành Sa-ma-ri, gọi là Xy-kha, gần thửa đất mà Gia-cóp đã cho Giu-se, con của ông ấy. 6 Ở đó có giếng Gia-cóp. Đức Giê-su vất vả vì đi đường nên ngồi xuống bờ giếng. Lúc đó khoảng giờ thứ sáu.”

“Giếng Gia-cóp vẫn còn đó cho đến ngày nay, nơi đã được khách hành hương trước đây nói tới. Giếng này chắc chắn là xác thực cho dù không được nói đến trong Cựu Ước” (SCHNACKENBURG, The Gospel, vol. I, p. 424). Đây là hình chụp giếng Giacóp vào năm 1894:

 Hình từ http://hitch.south.cx

Giám mục John H. Vincent giải thích tấm hình này trong “Earthly Footsteps of the Man of Galilee”, khi viếng thăm giếng năm 1894 như sau: “Giếng Giacóp hiện nay thuộc về một nhà thờ Hy Lạp (…). Giếng này sâu 75 feet (22,8 mét), bề rộng là 7 feet 6 inches (2,30 mét). Đường kính mặt bằng giếng là 17,5 feet (5,3 mét). Một tầng hầm mái vòm bao phủ trên giếng, có chiều dài 20 feet (6 mét), chiều rộng 10 feet (3 mét) và chiều cao 6 feet (1,8 mét). Những tảng đá cẩm thạch bị vỡ ở phía trước tấm hình thuộc về một số nhà thờ cổ xưa” (http://hitch.south.cx/biblesidenotes-e20%20Jacobs%20Well.htm).

Hội Thánh Chính Thống Hy Lạp đã mua khu đất đổ nát của nhà thờ trên, là nơi ghi nhớ biến cố Đức Giê-su gặp gỡ người phụ nữ Samari bên bờ giếng Giacóp (Ga 4). Hội Thánh Chính Thống Hy Lạp đã khởi công xây dựng một nhà thờ mới từ trước Thế Chiến thứ nhất (the First World War), nhưng khi mới chỉ xây được một phần của những bức tường phía ngoài thì đã phải ngưng lại vì chiến tranh. Đây là tấm hình chụp năm 1999. Công việc xây dựng nhà thờ đang được xúc tiến:

Hình chụp tháng 11/1999, từ http://welcometohosanna.com

Sau hơn 80 năm dang dở, nhà thờ đã được hoàn tất năm 2007. Đây là nhà thờ thánh Photina ngày nay, thuộc Hội Thánh Chính Thống Giáo Hy Lạp: 

Hình từ http://welcometohosanna.com

Hình của ssiatravani

Bên trong nhà thờ thánh Photina:

Hình chụp năm 2009 của Ferrell Jenkins

Đây là giếng Giacóp ở dưới hầm mộ (crypt) của nhà thờ:

Hình chụp từ post card

Hình của ssiatravani

Đây là miệng giếng Giacóp: 

 
Hình của ssiatravani

Giếng thì không thể di chuyển đi nơi khác, vì thế chúng ta có thể xác định đây là nơi mà Đức Giê-su đã vất vả vì đi đường nên ngồi xuống bờ giếng, và Người đã gặp gỡ và mặc khải cho người phụ nữ Sa-ma-ri biết Người là ai. Đúng như người phụ nữ đã nói với Đức Giê-su: “Thưa Ông, Ông không có gầu và giếng lại sâu…” (4,11). Đúng vậy, giếng sâu hơn 21 mét, và ngày nay, giếng Gia-cóp vẫn có nước mát và trong có thể uống được (WALKER, In the Steps of Jesus, 2006, p. 87-88). Vào thời Đức Giê-su giếng có thể sâu hơn. Các truyền thống Do Thái giáo, Sa-ma-ri, Ki-tô giáo và Hồi giáo đều liên kết giếng này với tổ phụ Gia-cóp.


Ngày 12 tháng 10 năm 2012
Email: josleminhthong@gmail.com

Xem bài viết:

Vinh sơn Ngô Đức Duy, O.P.

anistêmi (sống lại, đứng dậy) trong Tin Mừng Gio-an



Động từ Hy Lạp “anistêmi” xuất hiện 8 lần trong Tin Mừng Gio-an: 6,39.40.44.54; 11,23.24.31; 20,9 và có 3 nghĩa: (1) “Đứng dậy” (tiếng Anh: raise up; Pháp: se lever) xuất hiện 1 lần: 11,31; (2) “Sống lại” (tiếng Anh: bring to life, raise up; Pháp: ressusciter) xuất hiện 6 lần: 6,39.40.44.54; 11,23.24; (3) “Trỗi dậy” (tiếng Anh: raise up; Pháp: se relever) xuất hiện 1 lần: 20,9. Trong 8 lần động từ anistêmi, có 4 lần trong ch. 6, nói đến việc “sống lại” của những người tin vào Đức Giê-su trong ngày sau hết; 3 lần trong ch. 11, trong đó 2 lần nói đến việc “sống lại” của La-da-rô và 1 lần nói đến việc “đứng dậy” của Ma-ri-a; 1 lần trong ch. 20 nói lên việc “trỗi dậy” của Đức Giê-su từ những kẻ chết. Như vậy, Tin mừng Gio-an dường như muốn chứng minh việc sống lại một cách tiệm tiến: Từ việc sống lại vào này sau hết đến việc sống lại ngay bây giờ và sự sống lại của Đức Giê-su. Đó là lời bảo đảm có sự sống đời đời ngay bây giờ cho những ai tin vào Đức Giê-su.

1. “Đứng dậy”

Ở ch. 11, trong cuộc trò chuyện giữa Đức Giê-su và Ma-ri-a (11,28-33), khi nghe Mác-ta nói nhỏ: “28Thầy đến rồi và Thầy gọi em” (11,28), cô Ma-ri-a liền “đứng dậy” để tiếp đón Người. Người thuật chuyện kể: “31Những người Do Thái đang ở với Ma-ri-a trong nhà và chia buồn với cô ấy, thấy Ma-ri-a vội vã đứng dậy (anestê) ra đi, họ đi theo cô ấy, vì tưởng cô ấy đi ra mộ để khóc ở đó” (11,31). Trong câu này, tác giả sử dụng động từ “anestê” (gốc động từ “anistêmi”) để diễn tả hành động đứng dậy của cô Ma-ri-a. Như vậy, động từ “anistêmi” có nghĩa “đứng dậy”, thoát khỏi một vị trí nào đó.

2. “Sống lại”

   a) “Sống lại ngày sau hết”
Trong ch. 6, động từ sống lại xuất 4 lần với kiểu nói: “sống lại trong ngày sau hết” (6,39.40.44.54). Trong diễn từ “bánh hằng sống” (6,34-40) tại hội đường Ca-phác-na-um, Đức Giê-su tự khẳng định Người chính là “bánh đem lại sự sống” (6,35). Nhưng sự sống ấy chỉ dành cho những ai tin vào Người Con, và họ sẽ được sống lại (anastêsô) trong ngày sau hết (6,39-40). Trong cc.39-40, Chính Đức Giê-su là chủ từ của động từ “anastêsô”. Người nói: “39Đây là ý muốn của Đấng đã sai Tôi: Tất cả những ai Người đã ban cho Tôi, Tôi sẽ không để hư mất một ai, nhưng Tôi sẽ làm cho người ấy sống lại (anastêsô) [trong] ngày sau hết. 40Thật vậy, đây là ý muốn của Cha Tôi: Tất cả những ai thấy Con và tin vào Người thì có sự sống đời đời, và chính Tôi sẽ cho người ấy sống lại (anastêsô) [trong] ngày sau hết” (6,39-40). Như thế, chính Đức Giê-su có quyền năng làm cho họ “sống lại” từ sự chết trong ngày cánh chung. Khi nghe Đức Giê-su nói: “Chính tôi là bánh xuống từ trời” (6,41), đám đông bắt đầu bàn tán về nguồn gốc của Đức Giê-su. Trước vấn đề đó, Đức Giê-su đã trả lời cho họ: “44Không ai có thể đến với Tôi, nếu Cha là Đấng đã sai Tôi, không lôi kéo người ấy, và Tôi, Tôi sẽ làm cho người ấy sống lại (anastêsô) trong ngày sau hết” (6,44). Và với nguồn gốc này, Đức Giê-su đã làm cho những người tin vào Người sống lại. Cũng vậy, khi ban chính thân mình làm của ăn (6,52-59), Đức Giê-su khẳng định: “54Ai ăn thịt Tôi và uống máu Tôi, thì có sự sống đời đời, và Tôi sẽ làm cho người ấy sống lại (anastêsô) vào ngày sau hết” (6,54). Cả hai trường hợp này, Đức Giê-su là chủ thể làm cho người bước theo mình được sống lại từ sự chết trong ngày cánh chung.

   b) Sống lại ngay bây giờ
Ở ch. 11, trong cuộc trò chuyện giữa Đức Giê-su và Mác-ta về cái chết của La-da-rô (11,17-27), Đức Giê-su đã khẳng định: “23Em chị [La-da-rô] sẽ sống lại (anastêsetai)” (11,23). Dù Mác-ta tin vào Đức Giê-su, nhưng niềm tin của cô vẫn còn ở cấp độ niềm tin truyền thống: tin vào sự sống lại của em mình xảy ra vào ngày sau hết: “24Mác-ta nói với Người: Con biết rằng em con sẽ sống lại (anastêsetai), trong sự sống lại vào ngày sau hết” (11,24). Mác-ta đã không hiểu rằng chính Đức Giê-su là sự sống lại và là sự sống (x. 11,25), nên có thể làm cho em cô sống lại từ sự chết ngay bây giờ. Ở đây, tác giả sử dụng động từ “anastêsetai” (gốc động từ “anistêmi”) trong cả hai câu (cc. 23-24) để diễn tả sự sống lại của La-da-rô, sống lại về phần thể xác ngay tại đời này. Thế nhưng, sự sống lại của La-da-rô không vĩnh cửu vì sau đó ông lại bị các thượng tế quyết định giết (x. 12,10). Thực ra, sự sống lại của La-da-rô vừa là dấu chỉ về sự sống lại của Đức Giê-su, vừa mình chứng cho sự sống đời đời dành cho người tin được ban ngay ở đời này, như Đức Giê-su đã khẳng định với Mác-ta ở 11,25-26: “25 Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống, 26và tất cả những ai sống và tin vào Thầy, muôn đời sẽ không chết.”

3. “Trỗi dậy”

Ở ch. 20, trong phần nói về ngôi mộ trống (20,1-10), khi chạy ra tới mộ, Phê-rô và người môn đệ kia chưa hiểu rằng: theo Kinh Thánh, Đức Giê-su phải trỗi dậy từ giữa những kẻ chết. Người thuật chuyện kể: “9Thật ra, các ông chưa hiểu theo Kinh Thánh là Người phải trỗi dậy (anastênai) từ giữa những kẻ chết” (20,9). Ở đây, tác giả sử dụng động từ “anastênai” để nhấn mạnh việc “trỗi dậy”, tức là việc “sống lại” của Đức Giê-su. Như vậy, ngay lúc đó Đức Giê-su đã sống lại từ kẻ chết. Sự sống lại của Đức Giêsu hoàn toàn khác với sự sống lại của La-da-rô về thể lý. Đối với Đức Giêsu, sau khi sống lại, Người vẫn là Đức Giêsu chịu đóng đinh (20,21.27), nhưng Người đã được biến đổi vì không còn bị giới hạn của những điều kiện vật chất (x. 20,19). Sự trỗi dậy của Đức Giê-su thực hiện điều người đã nói ở 11,25: “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống” và những ai tin vào Người thì không bao giờ chết nữa (x. 11,26).

Kết luận.
Theo những gì phân tích ở trên, chúng ta thấy động từ Hy Lạp “anistêmi” trong Tin mừng Gio-an có ba nghĩa: (1) “đứng dậy” từ một vị trí cố định (11,31). (2) “sống lại” trong ngày sau hết (6,39-40.44.54) hay sống lại ngay đời này qua dấu chỉ La-da-rô sống lại (11,23-24). Sự sống lại này là dấu chỉ sự sống đời đời ngay trong hiện tại dành cho những ai tin vào Đức Giê-su. (3) “Trỗi dậy” từ những kẻ chết, để nói về sự sống lại của Đức Giê-su (20,9). Qua việc Đức Giê-su là chủ thể làm cho kẻ chết sống lại, chúng ta biết được căn tính của Đức Giê-su, là Con Thiên Chúa, quyền phép ngang hàng với Chúa Cha, vì chỉ có Thiên Chúa mới ban sự sống được (x. St 2,7). Đức Giê-su sẽ làm cho những ai tin vào Người không chỉ sống lại trong ngày sau hết mà còn có sự sống đời đời ngay bây giờ./.


Ngày 11 tháng 10 năm 2012
Vinh sơn Ngô Đức Duy O.P.
Email: vinhsonduyop@gmail.com
Nguồn: http://tungubontinmung.blogspot.com/2012/10/song-lai-t-anistemi-trong-tin-mung-gio.html



Tài liệu tham khảo
BEASLEY-MURRAY, G. R., John, (World Biblical Commentary, vol. 36), Dallas (TX), Word Books Publishers, 1987, (Second edition, Nashville, Thomas Nelson Publishers, 1999).
GINGRICH, “anistêmi,” Greek Lexicon, (Bible Works 8).
LÊ MINH THÔNG, Giu-se, (dịch giả), Bản văn Gio-an, TIN MỪNG và BA THƯ, Hy Lạp – Việt, Nxb. Tôn Giáo, 2011.
MOLONEY, F. J., The Gospel of John, (SPS 4), Collegeville (MN), The Liturgical Press, 1998.
THAYER, “anistêmi,” Greek Lexicon, (Bible Works 8).

Bản văn Kinh Thánh - La Bible - The Bible

Bản văn Híp-ri và Hy Lạp và các bản dịch Kinh Thánh
Texte hébreu, grec et les traductions de la Bible
Hebrew, Greek text and the translations of the Bible


BHS, Biblia Hebraica Stuttgartensia, by ELLIGER, K.; RUDOLPH, W., (eds.), (Hebrew Bible, Masoretic Text), Fourth Corrected Edition, Stuttgart, Deutsche Bibelgesellschaft, 1990.

BW, Bible Works

GNT, The Greek New Testament, by ALAND, B.; ALAND, K. (et al.), (eds.), (Fourth Revised Edition), Stuttgart, Deutsche Bibelgesellschaft, 2001.

LXX, Septuaginta, by RAHLFS, A., (ed.), (Old Greek Jewish Scriptures), Deutsche Bibelgesellschaft, (1935), 1979.

Nouveau Testament, interlinéaire Grec / Français, par CARREZ, M., Composition réalisée par The British and Foreign Bible Society, Swindon, Angleterre, 1993.

NTG-27th ed., NESTLE-ALAND, Novum Testamentum Graece, (27e éd. rév.), Stuttgart, Deutsche Bibelgesellschaft, 1996.

NTG-28th ed., NESTLE-ALAND, Novum Testamentum Graece, (28th Revised Edition), Stuttgart, Deutsche Bibelgesellschaft, 2012.


Online:
Tân Ước Hy Lạp
Nouveau Testament grec
Greek New Testament


Cựu Ước Híp-ri và Hy Lạp (bản LXX) 
Ancien Testament hébreu et grec
Hebrew and Greek Old Testament



Các bản dịch Kinh Thánh
Les traductions de la Bible
The translations of the Bible

Bible OSTY,  La Bible, par OSTY, E.; TRINQUET, J., Paris, Le Seuil, 1973.

BJ, La Bible de Jérusalem, by ÉCOLE BIBLIQUE DE JÉRUSALEM, (dir.,), (Nouvelle édition revue et augmentée), Paris, Le Cerf, 2000.
BJ online: http://bibliotheque.editionsducerf.fr/par%20page/84/TM.htm#

BW, Bible Works

Kinh Thánh ấn bản 2011, (dịch giả: NHÓM PHIÊN DỊCH CÁC GIỜ KINH PHỤNG VỤ), Hà Nội, Nxb. Tôn Giáo, 2011. Online: http://kinhthanhchomoinguoi.org/bible/1/ 

NAB-RE, New American Bible, Revised Edition, 1991 Present. Online: http://usccb.org/bible/books-of-the-bible/

NJB, New Jerusalem Bible,  online http://www.catholic.org/bible/ 

RSV-SCE, Revised Standard Version - Second Catholic Edition, 2006. Online: http://jmom.honlam.org/rsvce/
 
Sách Khải Huyền, Hy Lạp – Việt,  (dịch giả: Giuse LÊ MINH THÔNG), Nxb. Tôn Giáo, 2011, 288 tr.

Tân Ước, (bản dịch và chú thích có hiệu đính), (dịch giả:  NHÓM PHIÊN DỊCH CÁC GIỜ KINH PHỤNG VỤ), Hà Nội, Nxb. Tôn Giáo, 2008.

Tin Mừng Mác-cô, Hy Lạp – Việt,  (dịch giả: Giuse LÊ MINH THÔNG), Nxb. Phương Đông, 2011, 250 tr.

Bản văn Gio-an, TIN MỪNG và BA THƯ, Hy Lạp – Việt, (dịch giả: Giuse LÊ MINH THÔNG), Nxb. Tôn Giáo, 2011, 340 tr.

TOB, La Bible, Traduction œcuménique, (Édition intégrale), Paris, Le Cerf - Société Biblique Française, 1988, (8è édition).

Từ điển Kinh Thánh - Dictionnaire de la Bible - Dictionary of the Bible

Từ vựng - Từ Điển - Bách Khoa Kinh Thánh
Lexique - Dictionnaire - Encyclopédia de la Bible
Lexicon - Dictionary - Encyclopedia of the Bible

ABD, Anchor Bible Dictionary, 6 volumes, by FREEDMAN, D. N., (ed.), New York (NY) - London, Doubleday, 1992. (Libronix)

BDAG3, A Greek - English Lexicon of the New Testament and other Early Christian Literature, by DANKER, F. W., (rev. ed.), Third Edition, Chicago - London, The University of Chicago Press, (1957, 1979), 2000. (Libronix)

CE, The Catholic Encyclopedia, Online: http://www.newadvent.org/cathen/

DBS, Dictionnaire de la Bible. Supplément, par CAZELLES, H.; FEUILLET, A., (et al.), (dir.), t. I (1928)…, t. XII (1994), t. XIII (1999)…, Paris, Letouzey & Ané.

DEB, Dictionnaire encyclopédique de la Bible,  par CENTRE INFORMATIQUE ET BIBLE ABBAYE DE MAREDSOUS, (dir.), Turnhout, Brepols, 2002, (3è éd. rev. et aug.).

DVSp, Dictionnaire de la vie spirituelle,  par DE FIORES, S.; GOFFI, T., (dir.), (Adaptation française par F. VIAL), Paris, Le Cerf, (1983), 1987.

EDNT, Exegetical Dictionary of the New Testament, (3 volumes), by BALZ, Horst; SCHNEIDER, (Ed.), Grand Rapids, (MI), William B. Eerdmans Publishing Company, 1990. (Libronix DLS).

EsBD, Easton's Bible Dictionary, Online: http://www.biblestudytools.com/dictionaries/eastons-bible-dictionary/, (Bible works 8).

FsBD, Fausset's Bible Dictionary, 1949, Online: http://www.studylight.org/dic/fbd/, (Bible works 8).

HsBD. Harper’s Bible Dictionary, by ACHTEMEIER, Paul J., (Ed.), (With The Society of Biblical Literature), San Francisco (CA),  Harper & Row Publishers, 1985, 1178 p. (Libronix DLS).

ISBE, International Standard Bible Encyclopedia, by BROMILEY, Geoffrey W. (Ed.), (Fully Revised, Illustrated, In Four Volumes), Grand Rapids (Michigan), William B. Eerdmans Publishing Company, [1986], Reprinted, 1992. Online: http://www.studylight.org/enc/isb/ (Bible Works 8,  Libronix DLS).

Louw-Nida Lexicon, Online: http://www.laparola.net/greco/louwnida.php, (Bible Works 8).

LTdNT, Lexique théologique du Nouveau Testament, par SPICQ, C., Fribourg - Paris, Éditions Universitaires de Fribourg - Le Cerf, 1991.

TDNT, Theological Dictionary of the New Testament, (10 vol.) by KITTEL, G. (dir.), vol. I-IV; FRIEDRICH, G. (dir.), vol.VI-IX; PITKIN R. E., vol. X, (Index), vol. I, 1968 à vol. X, 1976, Grand Rapids (MI), W. M. B. Eerdmans Publishing Company. (Libronix DLS).

TDNTA, Theological Dictionary of the New Testament, edited by KITTEL, Gerhard; FRIEDRICH, Gerhard, translated by Geoffrey W. Bromiley; Abridged in One Volume. (Libronix DLS).

Thayer's Greek-English Lexicon of the New Testament: Coded with Strong's Concordance Numbers, by Joseph H. THAYER, 1996, (Bible Works 8).

VGNT, Vocabulary of the Greek New Testament, by MOULTON, J.H.;  MILLIGAN, G., [1930], 1995. (Bible Works 8).